Chiến thắng Điện Biên Phủ, mốc vàng trong lịch sử dân tộc

Ngày Cập nhật :

 

5_4_dbp.jpg

1. Bối cảnh lịch sử

 

Ngày 19/02/1946, với lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947 có ý nghĩa quan trọng trong đầu năm kháng chiến toàn quốc. Chiến thắng này là đòn quyết định làm thất bại hoàn toàn chiến dịch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa Cách mạng và đầu não kháng chiến, mở ra giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Chiến thắng biên giới năm 1950 đã tạo ra một bước chuyển biến cơ bản cho cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, giai đoạn ta nắm quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc bộ, chuyển hẳn sang  liên tục tấn công và phản công địch. Quân ta càng đánh càng mạnh, càng thắng quân viễn chinh Pháp càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng được mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố.

Để cứu vãn tình thế bước vào Thu – Đông năm 1953, thực dân Pháp và Mỹ can thiệp đã cho ra Kế hoạch Nava, tăng cường lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương. Kế hoạch Nava là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ nhằm giành lại thế chủ động và tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sơ cho một số giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Để đạt được mục tiêu đó Pháp và Mỹ đã lập Kế hoạch đến năm 1954, quân chủ lực Pháp gồm 7 Sư đoàn co động chiến lược với 25 Binh đoàn làm nắm đấm thép.

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân với phương châm: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở mà nơi tương dối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, CamPuChia, liên tục mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Đông CamPuChia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều sinh lực của địch, mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp các chiến trường Đông Dương, đẩy chúng vào thế bị động về chiến lược. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược cảu ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân sự viễn chinh Pháp đã cho quân nhẩy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Điện biên phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy là Kế khoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava, nhưng các thủ lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tắng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ trở thành một Tập đoàn cứu điểm mạnh nhất Đông Dương. Địch cho tập trung ở đây 16.200 quân, gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn pháp binh, 1 tiểu đoàn Công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứu điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất của địch khá mạnh với 2 tiểu đoàn pháo 105 mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường Thanh, Hồng Cúm với gần 100 lượt chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 – 300 tấn hàng và the dù từ 100 – 150 tên địch, bảo đảm nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứu điểm Điaạn Biên Phủ là tập đoàn cứu ddiemr mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ. Nava coi Điện Biên Phủ như “Mộ pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành một quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Trước tình hình đó, ngày 06/12/1953. Bộ chính trị họp và nhận định, Điện Biên Phủ là Tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cảu địch là bị cô lập, về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận Công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng nứi hiểm trở, đường cơ động cho pháp gặp khó khăn, thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp, nhưng có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao quan trọng. Khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng chúng ta có thể khắp phục được. Bộ Chính tri quyết định mở chiếm dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch. Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ đã quyết định thành lập 4 đại đội bộ binh. 1 đại đội công pháo với tổng quân số trên 40.000. Chấp hành quyết địch của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn bị cho chiếm dịch được tiến hành khẩn trương. Cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tấn công địch. 261.451 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn. Hướng về Điện Biên Phủ đảm bảo hậu cần phục vụ chiến dịch.

2. Diễn biến của chiến dịch

Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội của ta ở vị trí tập kết sẵn sàng chiến đấu theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc. Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đẵn. Giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn. Đó là, thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hỏa lực chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo càng khó khăn hơn. Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt.

Đợt 1: Từ ngày 13/3 đến 17/3/1954, quân ta đã mưu trí, dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phái Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh, Pirốt, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát.

Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta đánh các chiếm cứ điểm phía Đông và mở đợt tấn tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm kiên cố của địch. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải đầu hàng. 17h30 phút ngày 07/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quần trang quân dụng của địch.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Nguồn:http://thaibinh.gov.vn/

Từ khóa